Dự án

GreenCityLabHuế

Dự án GreenCityLabHuế có mục đích nhằm tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu của thành phố Huế thông qua các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NBS), qua đó tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước (GBI) và tác động của các giải pháp NBS đối với tác động của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Trong giai đoạn xác định hai năm giữa 2018 và 2020, nhóm GreenCityLabHuế sẽ xác định phạm vi và trọng tâm hơn nữa cho các hoạt động sắp tới với sự tham gia của các nhà hoạch định địa phương, các chuyên gia, các bên liên quan và đại diện của xã hội dân sự. Trong giai đoạn dự án chính bắt đầu vào năm 2021, GreenCityLabHuế sẽ đưa ra kiến ​​thức, ý tưởng và các đề xuất cụ thể cho việc sử dụng các giải pháp dựa trên thiên nhiên (NBS) trong tương lai và phát triển cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước (GBI) như các biện pháp để thành phố và người dân có khả năng chống chịu cao hơn trước tác động của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Qua đó, GreenCityLabHuế sử dụng phương pháp tiếp cận phòng thí nghiệm học tập đô thị (ULL) bằng cách khởi xướng các quy trình đồng học tập và đồng sáng tạo để xây dựng tầm nhìn chung cho sự phát triển đô thị xanh hơn, thông minh hơn và đáng sống hơn ở thành phố Huế và các tỉnh lân cận.

Dưới đây, bạn sẽ tìm thấy thông tin cơ bản và hiểu biết thêm về kết quả hoạt động của dự án GreenCityLabHuế. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các giải pháp dựa trên tự nhiên (NBS) và cơ sở hạ tầng xanh-xanh mặt nước, xin vui lòng nhấp vào đây.

Giới thiệu chung

Với dân số khoảng 95 triệu người sinh sống trên diện tích chỉ 331,221 km2, Việt Nam là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao nhất trên thế giới. Bên cạnh mật độ dân số cao, Việt Nam đang trải qua quá trình đô thị hóa với tốc độ chóng mặt 3,4%/năm, điều này không chỉ tác động đến các đô thị đặc biệt như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mà còn ảnh hưởng đến các đô thị loại 1 như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Huế. Tỉ lệ dân cư sinh sống ở các đô thị trên toàn lãnh thổ đạt 30% trong giai đoạn hiện nay và ước tính một nửa dân số Việt Nam sẽ sống tại các đô thị vào năm 2025 (Anh và nnk, 2013). Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là một trong số những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất dưới tác động của biến đổi khí hậu (Kreft và nnk, 2015). Do vị trí địa lý dễ bị tổn thương, miền Trung Việt Nam, nơi có thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế), thường xuyên hứng chịu các cơn bão, các trận mưa lớn và các đợt nắng nóng khắc nghiệt (UNDP 2008). Thiệt hại gây ra bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan này không chỉ phá hủy nặng nề cơ sở hạ tầng mà còn gây thương vong lớn (Dang và nnk, 2016).

Thành phố Huế là một trong những đô thị lâu đời nhất ở Việt Nam. Thành phố có diện tích khoảng 71 km² và là một trong những thành phố tại Việt Nam có mật độ dân số cao nhất với 5.076 người/km². Là cố đô của Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1945 dưới triều Nguyễn, thành phố Huế được coi là trung tâm văn hóa, tôn giáo và giáo dục của quốc gia. Thành phố được thừa hưởng những giá trị văn hóa và những công trình kiến ​​trúc tráng lệ của Cố đô và các di tích khác đã được Tổ chức Văn hóa và Khoa học Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới từ năm 1993. Các địa điểm này là: Cố đô Huế ( năm 1993), Nhã nhạc Cung đình Huế (năm 2003), Mộc bản triều Nguyễn (năm 2010), Dấu ấn cung đình Nguyễn (năm 2014) và Thơ văn về kiến ​​trúc Cung đình Huế (năm 2016).

Huế nằm trên một vùng đồng bằng hẹp, có độ dốc từ Tây sang Đông. Địa hình bao gồm các đồi thấp bị xói mòn trên nền đá trầm tích phong hóa sâu ở phía tây thành phố và các đồng bằng trầm tích ở phía bắc và phía đông. Trung tâm lịch sử của thành phố và vùng lân cận được xây dựng trên vùng đồng bằng ngập lũ. Khu vực phía Bắc sông Hương cao trình từ 1,8 m đến 3,5 m. Khu vực phía nam sông Hương có độ cao từ 2,5 m đến vùng đồi bằng phẳng đến 18 m. Các khu vực dưới hai mét thường xuyên bị ngập lụt. Nằm cách thành phố Huế 100 km về phía Nam là đèo Hải Vân, một dãy núi đánh dấu sự phân chia khí tượng giữa miền Bắc và miền Nam của Việt Nam (HCCWG và Trần 2014).

Huế đang trải qua một xu hướng tái lập và đô thị hóa nông thôn. Do đó, nhu cầu về không gian sống trong thành phố tăng mạnh. Trái ngược với những ngôi nhà vườn truyền thống, một xu hướng có thể quan sát được là việc xây dựng những ngôi nhà nhỏ hơn và cao hơn. Không có tòa nhà cao nào có thể được tìm thấy ở phần phía bắc của thành phố. Trung tâm kinh tế nằm ở phía Nam Thành phố Huế. Do nhu cầu cao về không gian sống, có rất ít nhà đất. Do đó, những ngôi nhà và tòa nhà không chính thức có thể thấy trong thành phố.

Với vị trí là “đô thị loại 1 – thành phố ưu tiên” trong hệ thống phân loại đô thị của Chính phủ Việt Nam và tầm quan trọng nổi bật về giá trị lịch sử và giáo dục mang lại cho thành phố Huế vị thế của một mô hình kiểu mẫu cho hơn 65 thành phố cấp tỉnh khác. Sự kết hợp giữa mức độ phơi lộ cao trước các tác động của biến đổi khí hậu, cơ cấu dân số trẻ với trình độ dân trí cao và tầm quan trọng của du lịch khiến Huế trở thành một địa điểm lí tưởng cho dự án Phòng thí nghiệm học tập đô thị (ULL – Urban Learning Lab) nhằm tạo nên các ý tưởng đột phá, thu hút sự tham gia và hơn nữa là xây dựng các khái niệm phù hợp về GBI, về giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu cho đô thị.

Literature

Anh, T. T., Phong, T. V. G., Tuan, T. H., & Mulenga, M. (2013): Community consultation for long-term climate-resilient housing in Vietnamese cities: a comparative case study between Hue and Da Nang. Asian Cities Climate Resilience, IIED.

Asian Development Bank (ADB) (2015): Hue GrEEEn City Action Plan: Main report. Online: https://www.adb.org/sites/default/files/publication/179170/hue-greeen-city-ap.pdf.

Dang, T. N., Seposo, X. T., Duc, N. H. C., Thang, T. B., An, D. D., Hang, L. T. M., & Honda, Y. (2016): Characterizing the relationship between temperature and mortality in tropical and subtropical cities: a distributed lag non-linear model analysis in Hue, Viet Nam, 2009–2013. Global health action, 9(1), 28738.

Kreft, S., Eckstein, D., Junghans, L., Kerestan, C. and Hagen, U. (2015): Global Climate Risk Index 2015. Who Suffers Most From Extreme Weather Events? Briefing Paper. Germanwatch 2015.

UNDP (2008): Climate Change and Human Development in Vietnam, UNDP Human Development report 2007/2008. Online: http://hdr.undp.org/sites/default/files/chaudhry_peter_and_ruysschaert_greet.pdf.

Biến đổi khí hậu

Thành phố Huế nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp, mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Trong những tháng mùa hè, nhiệt độ trung bình là 29°C đến 30°C, với nhiệt độ cao nhất từ ​​38°C đến 41°C trong tháng 6 và tháng 7. Mùa khô từ tháng 5 đến tháng 9 với không khí khô từ gió Tây Nam. Vào những tháng mùa đông, nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 20°C đến 23°C. Mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 4 chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, gây ra lượng mưa đáng kể (HCCWG và Tran 2014; Fick và Hijmans 2017). Cường độ mưa tại Huế là một trong những tỷ lệ cao nhất ở Việt Nam. Vì vậy, tỉnh Thừa Thiên-Huế được coi là tỉnh dễ bị ngập lụt nhất ở Việt Nam. Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng và chủ yếu tập trung vào mùa mưa, đặc biệt là tháng 10 và tháng 11 với lượng mưa trên 30% hàng năm.

Ngày nay, Huế chịu ảnh hưởng bởi tác động do sự thay đổi của khí hậu. Rõ ràng nhất là các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão với lượng mưa lớn dẫn đến ngập lụt ở thành phố và tỉnh Thừa Thiên Huế và các đợt nắng nóng khắc nghiệt. Trong tương lai gần, điều kiện khí hậu sẽ còn thay đổi ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào các mô hình được sử dụng để dự đoán chúng. Trong giai đoạn xác định của Dự án GreenCityLabHuế, các điều kiện khí hậu hiện tại được đánh giá dựa trên các phép đo dài hạn trong giai đoạn 1960 – 1990 và các điều kiện trong tương lai được lấy từ việc lấy trung bình sáu mô hình khí hậu toàn cầu chi tiết hóa từ Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC).

IPCC thường sử dụng bốn kịch bản để dự đoán các điều kiện khí hậu có thể xảy ra trong tương lai dựa trên các kịch bản tương lai có thể xảy ra của nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, được gọi là “Đường nồng độ khí nhà kính đại diện (RCP)”. Tất cả bốn kịch bản đều dựa trên các lượng khí nhà kính khác nhau trong tương lai tùy thuộc vào lượng phát thải sắp tới, theo đó kịch bản RCP 2.6 giả định lượng phát thải thấp nhất có thể và kịch bản RCP 8.5 giả định lượng phát thải khí nhà kính trong tương lai cao nhất, đáng tiếc là có thể xảy ra nhiều hơn.

Các hình ảnh hiển thị điều kiện khí hậu trong tương lai ở Huế theo hai kịch bản RCP2.6 và mô hình khí hậu RCP8.5, được biểu thị bằng sự khác biệt so với điều kiện hiện tại và được tính trung bình ở cấp thành phố, trong các năm 2050 (trái) và 2070 (phải). Bạn có thể thay đổi kịch bản được hiển thị bằng cách di chuyển nút màu xanh lục bằng chuột sang trái đối với RCP8.5 hoặc sang phải đối với RCP2.6.

Các xu hướng quan sát được đối với các điều kiện khí hậu trong tương lai ở Huế cho thấy nhiệt độ không khí nói chung ấm hơn và lượng mưa (tổng lượng mưa) tăng đối với khu vực nhiệt đới-ẩm ngày nay. Thông tin chi tiết được liệt kê bên dưới:

  • Nhiệt độ không khí gần bề mặt trung bình hàng năm được dự đoán sẽ tăng khoảng 1,07°C lên đến 1,83°C cho đến năm 2050 và khoảng 1,11°C lên đến 2,65°C cho đến năm 2070
  • Nhiệt độ khắc nghiệt, tính bằng nhiệt độ tối đa của tháng ấm nhất, tăng khoảng 1,18°C đến 2,20°C cho đến năm 2050 và tăng 1,24°C đến 3,30°C cho đến năm 2070
  • Tổng lượng mưa hàng năm tăng khoảng 38,97mm đến 79,33mm (kịch bản RCP8.5) lên đến 108,10mm đến 141,20mm (kịch bản RCP2.6) cho đến năm 2050 và 74,53mm đến 140,41mm (kịch bản RCP2.6) lên 71,92mm đến 165,86 mm (kịch bản RCP8.5)
  • Các hiểm họa tự nhiên có thể sẽ trở nên trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu, bao gồm sự gia tăng các đợt nắng nóng và dẫn đến căng thẳng nhiệt cũng như lũ lụt.
  • Đồng thời, chất lượng không khí có thể bị ảnh hưởng.

Hình sau thể hiện tỉnh Thừa Thiên Huế và chỉ ra những thay đổi có thể xảy ra trong tương lai do biến đổi khí hậu đối với các vùng khác nhau của tỉnh theo các kịch bản RCP2.6 và RCP8.5.

Hiện trạng

Diên tích không gian xanh trên đầu người tương đối cao ở Huế, với khoảng 12,9 m²/người . Tuy nhiên, không gian xanh (và xanh mặt nước) không được phân bổ đồng đều trên toàn thành phố – với khả năng tiếp cận các mảng xanh đặc biệt hạn chế ở trung tâm lịch sử của thành phố – dẫn đến việc triển khai các yếu tố GBI mới. Huế được mệnh danh là “Thành phố vườn” và nổi tiếng với những ngôi nhà vườn đặc trưng, ​​góp phần tạo nên một lượng lớn không gian xanh cho thành phố. Các khu này tập trung chủ yếu ở các phường Kim Long, Thuận Thành, Thuận Hòa và Tây Lộc. Khoảng 4.228 ngôi nhà vườn có diện tích ít nhất 400 m² nằm ở Huế. Các nhà vườn Huế có đặc điểm là trồng rừng với số lượng lớn (50 loài / nhà) tạo nên mật độ cây xanh cao và hệ sinh thái tương ứng. Nhà vườn tuy được coi là nét độc đáo của thành phố nhưng vẫn phải đối mặt với sự mất mát về quy mô và kiến ​​trúc do động cơ kinh tế, thay đổi công năng và xu hướng hiện đại hóa. Do sự gia tăng của các khu dân cư với kiến ​​trúc hiện đại, những công trình kiến ​​trúc mang đặc điểm tự nhiên của thảm thực vật và nước bị mất đi. Điều tương tự cũng xảy ra đối với các khu vực cây xanh trong cách bố trí của các tòa nhà thuộc địa Pháp.

Hệ thống sông lớn nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế là sông Hương, bao gồm sông Hương và ba phụ lưu của là sông Bố, Tả Trạch và Hữu Trạch. Đường chính dài 104 km với lưu vực có diện tích 2.830 km², bằng 56% diện tích toàn tỉnh (HCCWG và Trần 2014). Các yếu tố hạ tầng xanh có mật độ cao nhất nằm xung quanh Hoàng thành với hệ thống lên đến 48 hồ, ao và kênh Ngự Hà dài 3 km với tổng diện tích 810.420 m².

Kiểm kê Cơ sở hạ tầng Xanh và Xanh mặt nước

Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước (GBI) trong thành phố đã được phân tích dựa trên sự phân bố hiện tại của các không gian xanh tự nhiên và bán tự nhiên (thực vật bao phủ) và xanh mặt nước (nước bao phủ) trong thành phố và vùng phụ cận. Bản kiểm kê của GBI trình bày sự phân bố không gian xanh, xanh mặt nước và không gian mở ở thành phố Huế dựa trên dữ liệu sử dụng đất từ ​​năm 2014. Mặc dù dữ liệu sử dụng đất là cơ sở của kiểm kê, các dữ liệu này thực sự là sự kết hợp giữa việc sử dụng đất và bề mặt đất. Tuy nhiên, bản đồ cung cấp một cái nhìn tổng quan tốt về sự phân bố và tỷ trọng GBI ở thành phố Huế.

Tỷ trọng GBI ở khu vực thành thị như sau: rừng 6%, đất nông nghiệp 19,5%, cơ sở nuôi trồng thủy sản 0,1%, không gian xanh công cộng 1%, nghĩa trang 8%, công trình thể thao 0,4% và rác thải 10%. Rừng và không gian xanh công cộng không được phân bổ đồng đều và tiềm năng mở rộng NBS có thể thấy được ở các vùng đất chưa phát triển cũng như các khu đô thị mới và đang phát triển ở Hương Sơ, An Hòa, Thủy Xuân và Hương Long. Ngoài ra, tiềm năng tăng cường NBS có thể thấy ở các khu vực đông dân cư và đặc khu, ví dụ: trong thành.

Các kịch bản

Để tạo ra tầm nhìn cho sự phát triển đô thị bền vững trong tương lai dựa trên các giải pháp dựa vào thiên nhiên (NBS) và cơ sở hạ tầng xanh-mặt nước (GBI), việc xây dựng các kịch bản có thể có trong tương lai là chìa khóa quan trọng. Các kịch bản giúp hình dung sự phát triển trong tương lai, đồng thời hiểu và đánh giá các tác động có thể có của sự phát triển này. Một yếu tố quan trọng để tạo ra các kịch bản phát triển đô thị trong tương lai là sự tham gia của các bên liên quan ở địa phương, bao gồm những người ra quyết định, các chuyên gia và đại diện của xã hội dân sự. Các bên liên quan vô cùng có hữu ích trong việc đưa ra ước tính đầu tiên về các biện pháp quản lý đất đai sẽ được công chúng đón nhận, giúp cho việc thực hiện thành công có khả năng và hiệu quả hơn. Do đó, GreenCityLabHuế sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình đồng sáng tạo có sự tham gia để phát triển các kịch bản có thể có trong tương lai. Kiến thức được tạo ra thông qua phân tích hiện trạng đầu tiên và đầu vào từ các bên liên quan địa phương được sử dụng để hình dung các ý tưởng về mức độ, cường độ và vị trí cho các phát triển đô thị trong tương lai của thành phố liên quan đến việc tiết kiệm, phát triển hoặc nâng cao không gian xanh. Do đó, những tầm nhìn được phác thảo có chức năng miêu tả cụ thể về những phát triển đô thị mong muốn trong tương lai. Trên cơ sở đó, các kịch bản thay đổi sử dụng đất sẽ được lập mô hình bằng mô hình hệ thống thông tin địa lý (GIS) nhiều lớp. Điều này cho phép mô phỏng và đánh giá các tác động có thể xảy ra của những thay đổi sử dụng đất cụ thể liên quan đến lợi ích của các thay đổi này đối với việc thích ứng với khí hậu và tăng cường các dịch vụ hệ sinh thái và do đó cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân thành phố Huế.

Vào năm 2020, GreenCityLabHuế bắt đầu quá trình phát triển kịch bản với một hội thảo với các bên liên quan, tại đó các chuyên gia địa phương thảo luận về những phát triển đô thị có thể có trong tương lai liên quan đến cơ sở hạ tầng xanh và mặt nước. Dựa trên các thông tin đầu vào và ý tưởng của các bên, chúng tôi đã xây dựng các bản miêu tả sự phát triển cơ sở hạ tầng xanh và mặt nước (GBI) có thể và mong muốn trong tương lai được áp dụng cho các đặc điểm cụ thể và điều kiện địa phương của thành phố Huế. Dựa trên những miêu tả này, các kịch bản sẽ được xác định và tác động của các kịch bản sẽ được đánh giá. Cuối cùng, các kịch bản sẽ tạo ra một tầm nhìn toàn diện cho toàn thành phố, đưa ra các đề xuất cụ thể cho việc thực hiện các can thiệp cơ sở hạ tầng xanh và mặt nước góp phần nâng cao khả năng chống chịu của thành phố Huế trước các thách thức môi trường trong tương lai.

Dựa trên các đề xuất cho các phương án kịch bản, các nhà nghiên cứu và các bên liên quan đã xây dựng các miêu tả cụ thể của Huế cho mỗi kịch bản trong quá trình đồng sáng tạo chung trong hội thảo với các bên liên quan. Bạn có thể đọc những miêu tả kịch bản này trong phần dưới đây. Những miêu tả này sẽ là cơ sở cho các bước quy hoạch cơ sở hạ tầng xanh và mặt nước tiếp theo trong khuôn khổ của GreenCityLabHuế.

Dưới đây, bạn sẽ tìm thấy các miêu tả của mỗi kịch bản với những miêu tả kịch bản ban đầu do các nhà khoa học đề xuất ở bên trái và các miêu tả kịch bản cụ thể của Huế được các bên liên quan thông qua ở bên phải.

Kịch bản A
Kịch bản phát triển thông thường
Kịch bản phát triển thông thường
Sự phát triển và mở rộng của thành phố dẫn đến việc xâm lấn liên tục vào khu vực tự nhiên và khu vực đất nông nghiệp, khiến khu vực này được chuyển đổi thành khu vực dành cho xây dựng và diện tích rất nhỏ được dành cho không gian xanh đô thị. Không có giải pháp nào được triển khai đối với cơ sở hạ tầng hiện có.
Đối chiếu với quy hoạch thành phố đến năm 2030, không có bất kì giải pháp bổ sung được thực hiện. Kịch bản phát triển thông thường có đặc điểm như quy hoạch không gian xanh đến năm 2030. Những không gian xanh đã được quy hoạch bao gồm những khu vực trong kinh thành, cụ thể là những khu vực được sử dụng cho mục đích quân sự sẽ được chuyển đổi thành không gian xanh đô thị. Không có giải pháp can thiệp hay hành động cụ thể nào có khả năng xảy ra tại những khu vực hiện có hoặc đã được quy hoạch khác.
Kịch bản B
Cải thiện ở quy mô nhỏ
Cải thiện ở quy mô nhỏ thông qua các loại hình xanh truyền thống
Sự phát triển và mở rộng của thành phố dẫn đến việc xâm lấn liên tục vào khu vực tự nhiên và khu vực đất nông nghiệp. Tuy nhiên, để cải thiện chất lượng khu vực lưu trú cũng như can thiệp về mặt thẩm mĩ, cây xanh sẽ được trồng trong những khu vực mới được xây dựng. Tuy nhiên, diện tích không gian xanh được tạo mới vẫn rất ít. Trong khu vực nội thành, cây được trồng thêm với mục đích nâng cao chất lượng không khí.
Kịch bản được nâng cấp dựa trên kịch bản A thông qua thực hiện các phương án can thiệp/hành động bổ sung. Những hoạt động này sẽ được thực hiện trên cả những loại hình sử dụng đất hiện có và những loại hình sử dụng đất đã được quy hoạch (trên tất cả những khu vực phù hợp). Những hành động/loại hình GBI ở quy mô nhỏ hơn (có chọn lọc và có dấu vết các-bon nhỏ) sẽ được xem là truyền thống/phổ biến, và vì vậy (rất) khả thi để thực hiện. Những hành động/loại hình GBI bao gồm trồng cây (trên đường), cây bụi và hàng rào, hình thành những hẻm cây, xây dựng các khu vui chơi nhiều cây xanh và phủ xanh/cải thiện những khu vui chơi hiện có, hoặc xây dựng những công viên nhỏ. Những hoạt động có chọn lọc trong những khu vực hiện có bao gồm phủ xanh ban công và xây dựng những giàn treo thực vật.
Kịch bản C
Cải tiến quy mô lớn hơn
Cải thiện ở quy mô trung bình đến lớn
Hoạt động xâm lấn và khu vực tự nhiên sẽ bị hạn chế. Thay vào đó, phần lớn diện tích được mở rộng của thành phố sẽ sử dụng đất nông nghiệp. Khu vực được xây dựng mới sẽ được phủ xanh bằng cách trồng thêm cây, phủ xanh với mật dộ cao, ví dụ vườn trong nhà và vườn thoát nước. Ở những khu vực được xây dựng mới, diện tích không gian xanh trên đầu người sẽ tăng lên dưới dạng không gian xanh công cộng nhiều cây gỗ. Một số giải pháp được áp dụng với mục đích cải thiện cơ sở hạ tầng hiện có trên toàn thành phố Huế như phủ xanh bằng cách trng cây, phủ xanh với mật độ cao hơn và trên diện tích rộng hơn đối với vườn trong nhà, hoặc các dải cỏ vỉa hè. Không gian xanh hiện có sẽ được cải thiện chất lượng như đưa váo sử dụng các khu vui chơi. Những giải pháp này sẽ giúp thành phố thích nghi trước những điều kiện thời tiết cực đoan trong tương lai (nóng, ngập lụt) và nâng cao sức khỏe cộng đồng thông qua việc giải quyết tình trạng ô nhiễm không khí là một ví dụ.
Kịch bản này xây dựng dựa trên những phương án can thiệp quy mô nhỏ trong kịch bản B thông qua xem xét những hành động/loại hình GBI với dấu vết không gian lớn hơn (những tác động với dấu vết từ trung bình đến lớn), cũng như các loại hình GBI ít mang đặc tính truyền thống hơn/chưa phổ biến. Trong hiện trạng sử dụng đất hiện nay, những hoạt động được lựa chọn tương tự với kịch bản B được dự đoán; tuy nhiên, bên cạnh kịch bản B, những sân xanh, hồ và vườn nhà sẽ được xem xét, cũng như vườn cộng đồng. Không gian xanh sẽ được cải thiện, ví dụ thông qua trồng cây, cây bụi và hàng rào, xây dựng khu vui chơi nhiều cây gỗ. Cơ sở hạ tầng hiện tại có thể được cải thiện tốt hơn với vỉa hè thấm nước, mương sinh học và dải cỏ vỉa hè, đặc biệt trong những khu vực cải tạo và tái phát triển. Những khu vực được xây mới, như những khu vực đã được quy hoạch thành đất phát triển bổ sung, những khu vực tái phát triển và những khu vực mới phát triển đem lại cơ hội cho việc thực hiện các hành động/loại hình GBI với tác động về mặt không gian trung bình và/hoặc lớn, bao gồm không gian xanh trong khu phố, bờ sông xanh, các công viên đô thị quy mô trung bình và/hoặc lớn, vườn cây ăn quả, cơ sở thể dục thể thao xanh, vườn có giá trị lịch sử và đồng cỏ. Quy hoạch đô thị đến năm 2030 được dự báo có thể được điều chỉnh nếu cần thiết để phù hợp hơn về mặt không gian đối với những tác động có dấu vết lớn hơn. Như vậy, việc triển khai các hành động/loại hình GBI, diện tích không gian xanh trên đầu người trong những mục đích sử dụng đất đã được quy hoạch có thể sẽ được tăng lên so với kịch bản A, hoặc những cải thiện quy mô nhỏ được đề xuất trong kịch bản B.
Kịch bản D
Thành phố sinh học
Thành phố sinh thái
Khu vực tự nhiên sẽ được bảo vệ. Diện tích rừng tăng lên thông qua hoạt động trồng rừng như là một giải pháp bổ sung nhằm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Việc mở rộng thành phố về mặt không gian sẽ chỉ được đáp ứng thông qua việc chuyển đổi khu vực đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng thành đất xây dựng. Thông qua việc áp dụng các quy định về xây dựng đối với các công trình được xây mới cho phép xanh hóa mái nhà và những mảng tường xanh, cũng như tỉ lệ lớn không gian xanh công cộng (nhiều cây gỗ), những khu vực xây dựng mới này sẽ có chất lượng môi trường tốt hơn rất nhiều. Tương tự, cơ sở hạ tầng hiện có cũng sẽ được cải thiện, ví dụ, trồng cây, phủ xanh rộng hơn và mật độ cao hơn, tạo thêm những dải cỏ vỉa hè, hồ điều tiết và mương lọc sinh học. Không gian xanh công cộng sẽ được phủ xanh thông qua việc trồng thêm cây và các loại hình thân gỗ khác. Chất lượng của những khu vực này sẽ được cải thiện hơn nữa khi các khu vui chơi được đưa vào sử dụng. Những giải pháp này có thể nâng cao khả năng chống chịu của thành phố Huế trước những điều kiện khí hậu trong tương lai, nâng cao sức khỏe và hành phúc của cộng đồng, và cải thiện đáng kể chất lượng khu vực lưu trú và tiềm năng giải trí của thành phố.
Mô tả về thành phố sinh thái được xây dựng dựa trên kịch bản C, và giả thuyết được đặt ra là tỉ lệ không gian xanh trên đầu người sẽ ngày càng tăng lên. Bên cạnh kịch bản C, kịch bản D đề xuất về việc trồng thêm rừng đô thị và/hoặc vườn cây ăn quả, hoặc những công viên đô thị lớn và vườn (lịch sử) được xây dựng trong những khu vực được dành cho các mục đích phát triển khác trong tương lai. Ngoài ra, những hoạt động chọn lọc bổ sung liên quan đến tài sản hiện có được đề xuất bao gồm mái nhà xanh, mảng tường cây xanh mặt tiền, và/hoặc mái nhà xanh mặt nước. Những công việc này nên và có thể được thực hiện tại những khu vực khả thi trong phạm vi quy hoạch sử dụng đất hiện nay, và đặc biệt trong phạm vi đất đã được quy hoạch các loại hình sử dụng đất, việc thực hiện các công việc này có thể ngày càng được đáp ứng thông qua việc điều chỉnh các quy định về xây dựng.
Lựa chọn khu vực thí điểm

Dự án GreenCityLabHuế được thực hiện nhằm đưa ra các đề xuất cho việc tiến hành các can thiệp trong tương lai đối với cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước. Trong quá trình xây dựng và mô hình hóa kịch bản, chúng tôi sẽ đánh giá các tác động tiềm tàng của các can thiệp cụ thể đối với các loại hình dịch vụ hệ sinh thái khác nhau. Qua đó, các tác động của cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước đối với các dịch vụ hệ sinh thái sẽ được mô phỏng và điều tra trên các cấp độ không gian khác nhau. Dự án sẽ đánh giá trên quy mô toàn thành phố và tại các khu vực nhỏ hơn, cụ thể là đối với một số quận và phường của thành phố. Trong khi việc mô phỏng các tác động tại cấp thành phố sẽ tổng quan hơn, mô hình quy mô cấp phường có thể mô tả tác động của các can thiệp cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước cụ thể chi tiết hơn. Hơn nữa, GreenCityLabHuế nhằm chứng minh và đánh giá tác động của cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước trong thực tế bằng cách thực hiện các can thiệp thử nghiệm về cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước tại các khu vực riêng lẻ, được gọi là “khu vực trình diễn thí điểm”. Một mặt, những khu vực trình diễn thí điểm này sẽ khiến các hoạt động GreenCityLabHuế được người dân trong thành phố biết đến nhiều hơn và sẽ là những ví dụ thực tế mang tính mô tả cho phép những người ra quyết định, các bên liên quan và người dân tìm hiểu thêm về các giải pháp dựa vào thiên nhiên và tác động của cơ sở hạ tầng xanh và xanh mặt nước. Mặt khác, những khu vực trình diễn thí điểm sẽ được sử dụng như “phòng thí nghiệm thực tế” để xác nhận và đo lường các tác động được mô hình hóa đối với các dịch vụ hệ sinh thái. Trong giai đoạn xác định của dự án, các phường nơi áp dụng mô hình quy mô nhỏ và nơi triển khai các khu vực trình diễn thí điểm đã được lựa chọn thông qua quá trình có sự tham gia của các bên liên quan địa phương tại Huế. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khu vực được lựa chọn, vui lòng nhấp vào đây.

GreenCityLabHuế

Nature-Based Solutions IconCác giải pháp dựa

vào tự nhiên

News IconTin tức

mới nhất

Abou Us IconVề chúng

tôi

Nguồn tài trợ

BMBF Logo

Đơn vị thực hiện